Nghị quyết 26 – Động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ngày đăng: 27/11/2018  - Lượt xem: 19

Thực hiện Nghị quyết 26 – Hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Vĩnh Phúc đã có cách làm sáng tạo, đi đầu, tạo đột phá từ nhận thức đến hành động cụ thể. Sau 10 năm triển khai Nghị quyết đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân .

 

Những năm qua, nông nghiệp Vĩnh Phúc có sự chuyển biến tích cực, phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững; sản xuất nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung và thực sự trở thành cơ sở cho phát triển bền vững nền kinh tế của tỉnh. Giai đoạn 2008-2017, tốc độ tăng trưởng GRDP nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh bình quân đạt 4,28%/năm; giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2017 đạt xấp xỉ 10 nghìn tỷ đồng gấp 1,37 lần so với năm 2008. Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt từ 48,14% năm 2008 xuống còn 39,02% năm 2017; tăng tỷ trọng chăn nuôi từ 47,78% năm 2008 lên 51,5% năm 2017. Cơ cấu kinh tế nông thôn đã chuyển dịch theo hướng tích cực: Năm 2017, lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 8,5%, giảm 9% so với năm 2008; công nghiệp, xây dựng chiếm 59,6%, tăng 1,2% so với năm 2008; dịch vụ 31,8%, tăng gần 8% so với năm 2008.

Đẩy mạnh đưa cơ giới hóa vào sản xuất, từ năm 2008 đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng hàng trăm mô hình trình diễn cơ giới hóa sản xuất trồng trọt, chuyển giao trên 1.300 máy sản xuất nông nghiệp, các loại như máy làm đất đa năng công suất lớn, máy gặt đập liên hợp, máy lên luống, máy cấy lúa 4 hàng và 6 hàng. Đến năm 2017, tỷ lệ cơ giới hóa trong làm đất trồng lúa đạt trên 95%, thu hoạch lúa đạt trên 90%; nhiều thiết bị hiện đại đã được đưa vào áp dụng trong sản xuất chăn nuôi, thủy sản như: Máy thái cỏ, máy vắt sữa bò, máy nghiền trộn thức ăn cho gà, lợn, máy sục khí tạo oxi cho cá, máy ép phân xử lý chất thải chăn nuôi, máy phun khử trùng tiêu độc môi trường,... Xây dựng nhiều mô hình áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trên cây lúa từ khâu gieo hạt, làm mạ, làm đất đến thu hoạch đã làm giảm giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho bà con nông dân. Kết quả đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần tích cực vào nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

Nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn, trong 10 năm qua, tỉnh đã phê duyệt và triển khai thực hiện 195 lượt đề tài thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với tổng kinh phí 48,6 tỷ đồng. Việc ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ được áp dụng rộng rãi trong sản xuất như: trồng rau, hoa trong nhà lưới, nhà kính, bằng kỹ thuật thuỷ canh, canh tác trên giá thể không đất; nuôi cấy mô cho hoa lan, cây cảnh, cây lâm nghiệp, thủy sản; ứng dụng ghép cà chua lên gốc cây cà tím; triển khai dự án rau an toàn; hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI); thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP); phát triển các mô hình trồng cây dược liệu quý như: Trà hoa vàng, Ba kích, Đinh lăng; ứng dụng có hiệu quả công nghệ thụ tinh nhân tạo giống bò, lợn... Trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn theo lợi thế địa phương, áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm như vùng sản xuất chăn nuôi lợn, thanh long ruột đỏ, rau an toàn, lúa chất lượng,… Đến hết năm 2017, toàn tỉnh có 128 cơ sở được cấp giấy chứng nhận VietGAP gồm: 71 cơ sở sản xuất rau, quả với diện tích trên 700 ha, sản lượng khoảng 35 ngàn tấn/năm, 39 cơ sở chăn nuôi lợn thịt, sản lượng sản xuất khoảng 3.000 tấn thịt/năm; 9 cơ sở nuôi thủy sản, diện tích 60,2 ha, sản lượng khoảng 250 tấn/năm; 3 cơ sở chăn nuôi bò sữa và 6 cơ sở chăn nuôi gà thịt, gà đẻ trứng. Năm 2018, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện hỗ trợ 40 cơ sở sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) ngày càng được mở rộng, sản xuất nông nghiệp sạch và hiện đại đã có sự đồng hành của các doanh nghiệp và nông dân để từng bước xây dựng nền nông nghiệp Vĩnh Phúc xanh, sạch.

Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Thị Thúy Lan thăm mô hình sản xuất ớt tại huyện Tam Dương

HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 201 về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020. Các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp đã tác động tích cực đến tăng năng suất, chất lượng của cây trồng, vật nuôi, thủy sản; cơ giới hóa tiếp tục được triển khai rộng rãi, làm tăng năng suất lao động, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp. Ngoài việc ban hành chính sách hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, chính sách về đất đai được tỉnh quan tâm thực hiện, tỉnh đã triển khai thành công công tác dồn thửa, đổi ruộng tại 2 xã điểm, tạo sự lan tỏa làm cơ sở tiếp tục triển khai cho các xã trên địa bàn tỉnh. Sau khi thực hiện dồn thửa, đổi ruộng đã giảm 74% tổng số thửa; mỗi hộ còn 1,7 thửa, giảm 4,7 thửa so với trước khi dồn thửa, đổi ruộng.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, luôn quan tâm, ưu tiên bố trí nguồn lực, tăng đầu tư thực hiện chương trình. Các cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương trong tỉnh đã tích cực vào cuộc. Sau 7 năm triển khai thực hiện, bộ mặt nông thôn Vĩnh Phúc đã có nhiều đổi mới theo hướng khang trang hiện đại, nhiều công trình hạ tầng nông thôn đã được xây mới, nâng cấp đảm bảo đạt chuẩn. Đến nay, toàn tỉnh đã có 2/9 huyện, thành phố được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; hai thành phố Vĩnh Yên và Phúc Yên đang chờ TƯ thẩm định, công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; có 95/112 xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, trong đó có 83/112 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 74,1%, bình quân số tiêu chí đạt/xã là 18,4 tiêu chí tăng 11,74 tiêu chí so với năm 2010. Các xã còn lại đều đạt ít nhất từ 10 tiêu chí trở lên. Vĩnh Phúc là một trong các tỉnh được Trung ương đánh giá cao trong xây dựng nông thôn mới.

Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn được tỉnh triển khai tích cực. Sau 10 năm thực hiện chương trình giảm nghèo, toàn tỉnh có trên 731.662 lượt hộ nghèo và học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn và hỗ trợ lãi suất hàng tháng; có trên 740.000 lượt người nghèo và người dân các xã 135 được mua bảo hiểm y tế và  khám chữa bệnh miễn phí; có hơn 13.000 hộ nghèo được hỗ trợ xây nhà đại đoàn kết bằng nguồn ngân sách tỉnh và được vay vốn làm nhà từ ngân hàng chính sách xã hội tỉnh; trên 216.000 lượt học sinh con hộ nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh dân tộc thiểu số được miễn 100% học phí, các khoản đóng góp khác và được trợ cấp học tập hằng tháng.

Trong 10 năm, tỉnh đã giải quyết việc làm cho trên 247 nghìn lao động, trong đó, giải quyết việc làm trong nước trên 233 nghìn người, đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài gần 14 nghìn người. Năm 2008, số lao động nông thôn được học nghề là 20.480 người, sau 10 năm thực hiện đã có 314.227 người được tham gia học nghề. Số lao động nông thôn sau đào tạo nghề có việc làm đạt trên 80%, nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của tỉnh đạt 70,3% năm 2017, trong đó tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt 42,51%. Với những nỗ lực đó, đến hết năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm còn 3,93%, bình quân giảm mỗi năm từ 1-1,5%, toàn tỉnh không còn xã nghèo, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 31 triệu đồng/người, tăng 2,6 lần so với năm 2008.

 

Nghị quyết 26 đi vào cuộc sống góp phần nâng cao đời sống người nông dân

Cùng với nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần, bài trừ các hủ tục, xây dựng nếp sống mới ở nông thôn được tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện. Phong trào tổ chức đám cưới theo nếp sống mới trong phạm vi gia đình, dòng họ, không mời khách tràn lan, không hút thuốc lá, tổ chức gọn nhẹ, tiết kiệm. Trong tổ chức việc tang dần xoá bỏ một số hủ tục mê tín dị đoan, hiện tượng cúng bái rườm rà, tốn kém; việc cải táng, xây mộ về diện tích, nghĩa trang nhân dân đúng theo quy định. Các lễ hội được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, đúng nghi lễ, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Nhiều xã đã khôi phục các lễ hội truyền thống góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”;  phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa” phát triển rộng khắp ở các địa phương trong tỉnh với số lượng và chất lượng ngày càng cao, góp phần tích cực vào việc xây dựng cộng đồng dân cư nông thôn ổn định và phát triển. Từ năm 2008 đến năm 2017, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa tăng đều qua từng năm, năm 2008 là 78,9%, năm 2017 là 88,1%. Năm 2008, có 57% làng, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn Làng văn hóa, năm  2017 tỷ lệ này đạt 86,41%.

Bên cạnh những kết quả tích cực, việc thực hiện Nghị quyết TƯ 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn tồn tại, hạn chế. Sản xuất nông nghiệp quy mô còn nhỏ, chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số loại sản phẩm nông nghiệp còn thấp. Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít. Mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao chưa nhiều, công nghiệp chế biến nông sản quy mô nhỏ. Làng nghề, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm. Hầu hết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ lẻ dưới dạng hộ gia đình, thiếu vốn, thiếu mặt bằng sản xuất. Nguồn vốn ngân sách đầu tư thực hiện các chương trình, đề án, dự án về phát triển nông nghiệp, nông thôn còn thấp so với nhu cầu; việc huy động nguồn vốn đầu tư phát triển cho nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới chưa được nhiều. Chính sách về huy động các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa đủ mạnh, hiệu quả thấp. Đời sống nông dân tuy được cải thiện nhưng vẫn còn khó khăn; khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị còn cao.

Để tiếp tục đưa Nghị quyết 26 phát huy hiệu quả trong đời sống đẩy mạnh, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, trong thời gian tới, Vĩnh Phúc tập trung đổi mới công tác tuyên truyền, chỉ đạo để nâng cao nhận thức và tiếp tục thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới; tái cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản toàn diện theo hướng hiện đại. Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội; đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho nông dân, phát triển khoa học công nghệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện các giải pháp về xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, kết nối tiêu thụ sản phẩm, phát triển thị trường để tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm nông sản.

Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước; cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị -xã hội, xã hội nghề nghiệp. Phấn đấu tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông lâm, thủy sản bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 3,5-4,0%; giai đoạn 2026-2030 đạt 3,5-3,8%. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2025 đạt 50 triệu đồng/người; năm 2030 đạt 70 triệu đồng. Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đến năm 2025 dự kiến còn dưới 30%, đến 2030 dự kiến dưới 25%.

Tác giả: Nhật Ánh - Nguồn: Cổng thông tin - Giao tiếp điện tử tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 19

File đính kèm

Tiếng hát nông dân Đại hội đại biểu hội nông dân Hệ thống nuôi cá trê hiện đại
Xem tất cả »

Liên kết website